Bài viết mới

Điều mà nhà trường không bao giờ nói với anh em

Hầu hết chúng ta được dạy rằng, phải học thật giỏi, thi vào những trường tốt nhất thì mới có cơ hội vào được 1 công ty tốt. Sau đó làm việc thật chăm chỉ, 8 tiếng mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần, có thể chủ động xin tăng ca để tích lũy thêm tiền...

25-05-2026 05-06-2026 Quý Hải Ng Kinh tế

Điều mà nhà trường không bao giờ nói với anh em

2 kiểu tư duy về tiền

Hầu hết chúng ta được dạy rằng, phải học thật giỏi, thi vào những trường tốt nhất thì mới có cơ hội vào được 1 công ty tốt. Sau đó làm việc thật chăm chỉ, 8 tiếng mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần, có thể chủ động xin tăng ca để tích lũy thêm tiền và kinh nghiệm rồi từng bước thăng tiến trong công việc.

Tư duy này không có gì sai nhưng nó có 1 nhược điểm rằng mỗi người chỉ có 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, 4 tuần mỗi tháng, 12 tháng mỗi năm và không có ai là ngoại lệ. Con người cần nghỉ ngơi, dù có tăng ca cũng không thể vượt quá 16 tiếng mỗi ngày. Nói cách khác, con người có giới hạn sinh học, không phải là cỗ máy có thể chạy 24/7. Kiếm tiền bằng sức lực luôn luôn có mức trần. Việc chạy theo công việc để nhận về đồng lương hàng tháng được gọi là làm việc vì tiền. Hay nói cách khác là đổi thời gian và đổi sức lực để lấy tiền.

Bây giờ nhìn qua những người sở hữu nhiều tài sản mà anh em mình làm vài chục năm cũng chưa chắc mua được. Bản năng sẽ khiến chúng ta đặt câu hỏi "Có phải mình làm công việc đó 8 tiếng, họ làm công việc đó 16-20 tiếng mỗi ngày nên mua được chúng không? Hay tại sao họ có thời gian đi đây đi đó khi anh em mình đang làm việc? Phải chăng là trước đó họ đã làm bù gấp mấy lần chúng ta?".

Đáng tiếc câu trả lời là hoàn toàn không. Nếu quan sát họ, anh em sẽ thấy họ thường tập trung vào một số thứ khác hơn là công việc lao động trả công thuần túy. Họ sở hữu doanh nghiệp, cổ phiếu, bất động sản, thương hiệu, hệ thống tạo dòng tiền, mua bản quyền sở hữu trí tuệ. Đó là những thứ có thể mang lại cho họ tiền ngay cả khi họ không làm việc. Số tiền đó đến từ lợi tức, từ doanh thu trừ đi chi phí, từ cổ tức, từ khoản khai thác cho thuê. Và khi họ cảm thấy không còn hứng thú với những thứ trên nữa, họ có thể sang nhượng hoặc chuyển nhượng để chốt lời tài sản. Đây là tư duy “để tiền làm việc cho bản thân”.

Họ vẫn lao động chân chính, lao động để tạo ra mô hình kinh doanh, để xây dựng thương hiệu, để tìm kiếm đối tác và khách hàng, và thậm chí còn làm việc nhiều hơn anh em mình. Và họ còn bỏ tiền để thuê người làm việc cho họ, thứ công việc mà chúng ta bỏ thời gian và công sức ra để làm và đổi lấy tiền từ họ. Khi họ đã xây dựng tài sản, những thứ đó tự động tạo ra tiền cho họ ngay cả khi họ nghỉ ngơi. Và thứ đó không thuộc về người lao động thuần túy, người có thể bị trừ lương vì chấm công trễ, người muốn nghỉ phải xin phép và chờ phê duyệt.

Khác biệt lớn nhất không chỉ nằm ở chăm chỉ hay lười biếng. Khác biệt còn nằm ở việc bán thời gian hay sở hữu tài sản. Dùng thời gian để đi làm cho người khác đổi lấy tiền hay dùng thời gian để xây dựng business cho chính mình. Đó là khác biệt cơ bản nhất trong 2 tư duy về tiền.

Có người bị lay-off ở tuổi 35. Sau lưng anh ta là 1 người vợ, 2 đứa con và khoảng thanh toán trả góp chung cư hàng tháng. Lúc anh ta ra khỏi công ty, không có thứ gì thuộc về anh ta dù trước đây đã từng chạy chiến dịch marketing và mang về doanh thu tiền tỷ cho công ty. Anh ta không có công việc kinh doanh ở đằng sau, không sở hữu nhà, đất. Còn với công ty, mọi thứ vẫn chạy, vẫn tiếp tục tạo ra dòng tiền, còn công việc trước đây của anh ta giờ là do AI đảm nhận.

Người nghèo sợ nợ, người giàu thích nợ

Thông thường chúng ta quan niệm nợ là xấu, vay tiền là nguy hiểm và sống an toàn là tốt nhất. Điều đó là đúng. Nhưng ngoài xã hội tồn tại hai kiểu sử dụng nợ hoàn toàn khác nhau. Loại nợ thứ nhất là vay tiền để tiêu dùng, mua điện thoại mới, mua xe sang, giải quyết áp lực ngắn hạn. Khoản nợ đó không tạo ra thêm dòng tiền, chúng được tạo ra để giải quyết nhu cầu trước mắt và dùng lao động trong tương lai để trả. Nói cách khác, nhóm này chọn giải quyết nhu cầu trước mắt trước khi kiếm đủ tiền cho nhu cầu đó, sau đó đi làm tiếp để trả dần.

Trong khi đó, nhóm khác lại xem nợ như một công cụ. Người ta vay để mở doanh nghiệp, mua tài sản, mở rộng hệ thống, đầu tư vào thứ có khả năng tạo ra nhiều tiền hơn lãi vay. Ví dụ đơn giản nhất nếu một người muốn mở quán ăn, quán cafe nhưng không có tiềm lực hay hỗ trợ của gia đình, thì họ bắt buộc phải vay trong vay ngoài để có tiền dựng biển hiệu, sang sửa quán, đặt cọc tiền thuê mặt bằng, nhập nguyên liệu, ... Điều họ quan tâm không phải có nợ hay không mà là khoản nợ đó tạo ra dòng tiền đều đặn hay không hay không và lợi nhuận có lớn hơn lãi vay hay không?

Vì vậy, khác biệt không nằm ở bản thân món nợ mà là nằm ở mục đích sử dụng, khả năng kiểm soát rủi ro và tài sản đứng phía sau khoản vay (tài sản thế chấp). Nợ chính là công cụ đòn bẩy lực nhất. Phần lớn các doanh nghiệp, tập đoàn và nhà đầu tư lớn trên thế giới đều đang sử dụng nợ. Một doanh nghiệp muốn mở nhà máy thường phải vay tiền, một chủ cửa hàng muốn mở thêm chi nhánh thường sẽ vay tiền, một nhà bán lẻ muốn dành ưu đãi giá thường vay tiền để nhập sỉ số lượng lớn. Các loại nợ đó có rủi ro nhưng cũng có khả năng mang lại lợi nhuận rất lớn. Đó là lý do người nghèo cố gắng tránh mọi khoản nợ và trả nợ ngay lập tức, trong khi người giàu lại dành rất nhiều thời gian để học cách quản lý nợ.

Lương không trả cho giá trị tạo ra, nó là mức tối thiểu để 1 người có thể tiếp tục quay lại làm việc

Đây là một trong những điều gây tranh cãi nhất về thị trường lao động. Vì nhiều người tin rằng tạo ra bao nhiêu giá trị thì sẽ nhận lại bấy nhiêu tiền. Nên Hải sẽ phân tích tất cả các góc nhìn để anh em tham khảo.

Góc nhìn thứ nhất là khi nhân viên tạo ra 10 đồng giá trị và doanh nghiệp trả cho họ đúng 10 đồng, doanh nghiệp sẽ phá sản vì họ không còn tiền để trả cho mặt bằng, chi phí vận hành, mở rộng đầu tư, dự phòng rủi ro. Dưới góc nhìn này, một người lao động muốn kiếm được 10 đồng từ công ty, họ phải tạo ra giá trị từ 100 đồng trở lên. Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanh nghiệp đó tạo ra giá trị lớn hơn chi phí bỏ ra. Và tiền lương là một phần trong chi phí doanh nghiệp, nên doanh nghiệp họ bỏ tiền không chỉ đơn thuần là mua "giá trị năng suất" của người lao động, mà họ bỏ tiền để mua sức lao động. Thao tác họ thường làm là chia nhỏ các bước để mỗi bước trở nên giản đơn để bất kỳ ai cũng có thể nhanh chóng tham gia thị trường. Từ đó mua lao động với mức giá rẻ nhất thị trường.

Góc nhìn thứ hai là góc nhìn cung cầu của thị trường, khả năng tìm người thay thế và vị thế trong đàm phán và thương lượng. Góc nhìn này có thể giải thích tại sao mức lương cho ngành thiết kế có thể đạt 20 triệu mỗi tháng vào 8 năm trước nhưng 8 năm sau thậm chí người ta còn nhìn thấy bài đăng tuyển thực tập sinh thiết kế với lương 4 triệu mỗi tháng đấy là còn chưa xét tới lạm phát. Bởi vì tìm kiếm người thiết kế, biết sử dụng máy tính và thông thạo tin học văn phòng vào 8 năm trước là không dễ. Nhưng ngày nay, ai cũng đổ xô đi học, AI cũng có thể tham gia. Dù việc thiết kế ngày nay rất dễ và 1 người có thể tạo ra năng suất cao gấp chục lần ngày xưa nhưng mức lương trung bình vẫn giảm vì cạnh tranh nguồn cung lao động.

Góc nhìn thứ ba là góc nhìn loại bỏ nhân sự lâu năm do đã già và đã biết đòi hỏi phúc lợi. Một nhân sự lâu năm lên được chức quản lý tầm trung và nhận mức lương cao gấp vài lần người mới, họ chính là cái tên có khả năng cao nằm trong danh sách lay-off. Vì họ đã được gán nhãn là có tuổi, kinh nghiệm lâu năm không bù đắp được tuổi tác, không bù đắp được mức lương họ nhận khi so với những người trẻ không vướng bận gia đình. Điều này không có nghĩa doanh nghiệp xấu (mặc dù họ rất xấu) mà nó chỉ phản ánh sự thật nghiệt ngã mà nền kinh tế đang vận hành. Đó là tính thống nhất và mâu thuẫn của người lao động và người sử dụng lao động. Doanh nghiệp cần lợi nhuận, dòng tiền, tăng trưởng và cắt giảm chi phí là cách để tối ưu lợi nhuận. Còn người lao động cần sự ổn định, thu nhập tốt và cảm giác an toàn. Mỗi bên đang theo đuổi lợi ích riêng và việc tăng lương cho người lao động và giữ chân quản lý tầm trung không có gì mới chính là xung đột lợi ích với boss.

Góc nhìn cuối cùng là trong một số ít trường hợp, người lao động vẫn có thể nhận được nhiều hơn giá trị họ tạo ra. Đó là giai đoạn tăng trưởng cần scale nhanh như startup vừa nhận được vài triệu đô từ quỹ đầu tư, công ty công nghệ đang đốt tiền để tăng trưởng hoặc doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị phần trước đối thủ. Lúc đó, mục tiêu quan trọng nhất không còn là lợi nhuận mà là tốc độ. Doanh nghiệp cần tuyển người thật nhanh, mở rộng thật nhanh và tăng trưởng thật nhanh và họ chấp nhận trả lương cao, thưởng lớn để tuyển dụng vượt nhu cầu thực tế. Trong ngắn hạn, một số nhân viên có thể nhận được mức thu nhập cao hơn giá trị kinh tế mà họ trực tiếp tạo ra. Và khoản chênh lệch đó được bù đắp bởi tiền từ nhà đầu tư, vốn vay và từ kỳ vọng tăng trưởng trong tương lai. Nói cách khác, doanh nghiệp đang trả lương bằng niềm tin vào tương lai thay vì kết quả của hiện tại. Điều này cũng giải thích vì sao nhiều ngành nghề có thể trải qua các đợt sa thải hàng loạt. Vì khi dòng vốn dồi dào, doanh nghiệp tuyển dụng rất mạnh. Nhưng khi vốn trở nên khan hiếm, họ bắt đầu xem xét lại hiệu quả của từng vị trí. Những công việc từng được trả lương rất cao có thể đột nhiên biến mất. Không phải vì người lao động trở nên kém hơn, mà là vì nguồn tiền dùng để tài trợ cho sự tăng trưởng đã thay đổi.

Mạng lưới quan hệ quan trọng hơn trình độ

Thông thường chúng ta sẽ hướng tới việc trở thành chuyên gia trong 1 lĩnh vực, người tài trong một tổ chức. Và ở thời đi học, thứ đó sẽ được quyết định bằng bài thi, bằng học bạ và bằng cấp, chứng chỉ bổ sung. Nhưng đó chỉ là điều kiện cần. Ở ngoài xã hội, giá trị còn phụ thuộc vào việc ai biết đến anh em, ai tin tưởng anh em và ai muốn hợp tác với anh em.

Một người rất giỏi nhưng không ai biết tới vẫn có thể gặp khó khăn. Trong khi đó, một người có network mạnh thường tiếp cận cơ hội nhanh hơn, gọi vốn dễ hơn, bán hàng dễ hơn và tìm người dễ hơn. Năng lực đúng là giúp tạo ra giá trị. Nhưng mối quan hệ mới là thứ công cụ giúp giá trị đó được lan truyền.

Tiền do con người tạo ra, không phải do chúa ban hành

Tiền vốn dĩ không có giá trị tuyệt đối. Tiền chỉ có giá trị khi con người cùng tin rằng nó có giá trị. Một tờ tiền về bản chất chỉ là 1 tờ giấy. Một con số trong tài khoản ngân hàng về bản chất chỉ là dữ liệu trên máy tính. Thứ tạo ra giá trị cho chúng không phải vật chất, mà là niềm tin. Một tờ giấy chỉ có giá vì hàng triệu người cùng tin rằng nó có giá, nó có thể dùng để đổi lấy thứ khác. Tiền vốn dĩ là một dạng niềm tin tập thể. Khi niềm tin thay đổi thì đồng tiền tiền cũng có thể mất giá, thị trường có thể sụp đổ, bong bóng sẽ xuất hiện và tài sản có thể biến động.

Nhìn theo góc độ này, anh em cũng sẽ thấy rằng rất nhiều tài sản giá trị nhất hiện nay thực chất cũng được xây dựng từ niềm tin như đã đề cập ở trên. Đó là thương hiệu, cổ phiếu, bằng sáng chế, bản quyền, sở hữu trí tuệ, nội dung kỹ thuật số. Chúng không đơn thuần tạo ra giá trị vì chúa ban hành hay tự nhiên tồn tại. Chúng có giá trị vì hàng triệu người cùng đồng ý rằng chúng có giá trị. Đó là một trong những năng lực chỉ tồn tại ở loài người - niềm tin vào thứ gì đó ở quy mô cực kỳ lớn.

Con người thích giữ tiền, tiền thích xoay vòng nhanh

Hải sẽ mở đầu mục này bằng công thức:

V=GDP/M=(P*Q)/M

Trong đó:

V là vận tốc của tiền tệ, M là khối lượng cung tiền,

P là giá cả của hàng hóa, Q là sản lượng hàng hóa dịch vụ

Anh em thấy công thức này có quen không? Nó xuất hiện trong hầu hết trong các giáo trình kinh tế. Ngân hàng trung ương in tiền không phải vì họ muốn, mà là tiền quay vòng quá chậm, ai cũng đang tích trữ tiền. Lúc đó thị trường phải cần thêm tiền để bôi trơn và kích thích hàng hóa lưu thông thông qua tiêu dùng và tuyển dụng lao động. Và khi có thêm tiền trong thị trường, bản thân mỗi tờ tiền sẽ trở nên mất giá và chính tiền cũng không thích điều này.

Khi nền kinh tế biến động, bản năng của nhiều người sẽ là giữ tiền thật chặt để cảm thấy an toàn. Họ sẽ ưu tiên thắt chặt chi tiêu, tạm dừng các hoạt động đầu tư, kinh doanh để quan sát. Và khi hàng triệu người cùng làm như vậy, nền kinh tế sẽ bị đình trệ vì vòng lặp doanh nghiệp ít bán được hàng hơn dẫn đến ít tuyển dụng hơn và sa thải hàng loạt. Người lao động sau đó thất nghiệp nhiều hơn và càng giữ chặt tiền mặt hơn. Ngân hàng trung ương lúc này buộc phải bơm thêm tiền để nền kinh tế quay lại trạng thái tiêu thụ sản phẩm mạnh, doanh nghiệp bán được hàng dẫn tới mở rộng tuyển dụng và cuối cùng là người lao động có việc làm sẽ tăng chi tiêu.

Kết

Nhà trường không nói với anh em những điều này không phải vì họ cố tình che giấu điều gì. Đơn giản là phần lớn những kiến thức đó không phải thứ có thể áp dụng cho tất cả mọi người. Về bản chất xã hội luôn cần tài xế xe tải, giáo viên, kỹ sư, bác sĩ, nhân viên phục vụ, thợ sửa ống nước, công nhân nhà máy,... Xã hội luôn cần những người cần phải dành thời gian để đi giải quyết nhu cầu xã hội và kiếm tiền từ sức lao động. Không phải ai cũng muốn trở thành doanh nhân, nhà đầu tư hay cổ đông. Và thực tế, không phải ai cũng cần trở thành họ. Lao động là vinh quang, làm việc vì tiền không có gì sai miễn là lao động chân chính. Đó là cách mà đa số con người kiếm sống từ trước đến nay.

Nhưng hiểu cách tiền vận hành sẽ giúp anh em nhìn thế giới rõ ràng hơn. Hiểu rằng tiền là một dạng niềm tin. Hiểu rằng lương không hoàn toàn phản ánh giá trị tạo ra. Hiểu rằng các mối quan hệ cũng là một loại tài sản. Hiểu rằng nợ có thể là gánh nặng nhưng cũng có thể là đòn bẩy. Và hiểu rằng tiền chỉ thực sự phát huy sức mạnh khi nó được lưu thông. Cuối cùng, mục tiêu của việc nắm những điều này không phải là để tự ý bỏ công việc làm công ăn lương. Mà để giúp anh em có thêm lựa chọn và ra quyết định về để dành, đầu tư và mở rộng kết nối khi bước vào các giai đoạn tích lũy của cuộc đời.

Tham khảo

Giáo sư Jiang Xue Qin

Tâm lý học về tiền

Email
Anh em muốn góp ý hoặc trao đổi thêm về bài viết, liên hệ qua nguyenquyhai2002@gmail.com