Bài viết mới

Tư duy xô nước

Câu chuyện kể về một thị trấn nọ nơi những ngày đầu các hộ dân đều mang theo xô đến sông để mang nước về nhà mỗi ngày. Về sau, các gia đình chọn trả tiền để thuê những thanh niên trai tráng trong làng xách nước thay vì tự mình mang xô đến....

15-06-2026 16-06-2026 Quý Hải Ng Tư duy

Tư duy xô nước

Câu chuyện kể về một thị trấn nọ nơi những ngày đầu các hộ dân đều mang theo xô đến sông để mang nước về nhà mỗi ngày. Về sau, các gia đình chọn trả tiền để thuê những thanh niên trai tráng trong làng xách nước thay vì tự mình mang xô đến. Giai đoạn đầu, các thanh niên trong làng hứng khởi và xách xô nước vì số tiền họ kiếm được phụ thuộc vào số xô nước họ giao. Các gia đình ai ai cũng muốn gả con gái cho những thanh niên chăm chỉ sẵn sàng đi xách nước vào cả khung giờ chiều tối, nửa đêm để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho nhiều gia đình. Sự thành đạt, tinh thần làm việc chăm chỉ, tương lai cầu tiến được thể hiện bằng số giờ đi xách xô nước và số xô nước họ đã mang đến từng nhà. Các thanh niên ốm yếu, gầy gò trong làng lúc này cũng đã tham gia vì công việc này ngày nào cũng có và không hết việc. Và đó cũng là việc mà các thanh thiếu niên chí khí trong làng lúc bấy giờ nên dấn thân.

Sau đó thì sao?

Cho tới một ngày, một số người nhận ra rằng thay vì mất công đi xách từng xô nước, họ có thể làm đường ống dẫn nước kéo tới tận từng nhà để có thể cung cấp nước. Một số nhà đầu tiên đã được kéo ống dẫn nước về. Và sau đó, những gia đình trên nhận ra rằng: Điều đó tiện lợi hơn rất nhiều so với việc gọi người khác mang nước tới mỗi khi hết nước. Rõ ràng, kết nối nguồn nước với từng nhà thông qua đường ống tiện lợi hơn nhiều so với việc nhờ người khác mang xô nước tới. Bởi vì, thay vì phải làm phiền người khác lúc nửa đêm và ra mở cửa, các gia đình chỉ cần mở vòi là có nước sử dụng.

Về sau, số gia đình thuê những thanh niên đi xách xô nước giảm dần. Những gia đình ấy lựa chọn đường ống nối tới các nhà máy cấp nước và khuyên người thân của họ chuyển sang nối đường ống. Không còn gia đình nào nhờ những chàng thanh niên ngày ấy chở nước tới nhà nữa. Các thanh niên ấy chỉ trong một thời gian ngắn chuyển từ không hết việc sang phải kiếm việc khác để làm.

Rõ ràng, việc tin rằng chỉ cần ngày đêm chăm chỉ chở xô nước nước để kiếm nhiều tiền và mai này sẽ khá hơn đã không còn đúng. Nó chỉ khiến 1 người tự an ủi mình, tự huyễn hoặc mình rằng mình đã đổ mồ hôi giữa cái nắng chói chang mỗi ngày, thậm chí đổ cả máu và nước mắt nhưng tại sao mình không thể khá lên được? Còn những người kia, tại sao họ có thể khá mặc dù chẳng mấy khi thấy họ xách nước?

Những người đứng đằng sau các đường ống dẫn nước, họ rất cực giai đoạn đầu để nối từng ống đến tận từng nhà. Còn về sau, gần như chẳng ai thấy họ. Chẳng ai biết họ đang ở đâu, đang làm gì. Họ chỉ ra mặt khi đường ống hoặc nguồn nước gặp sự cố. Còn không, trước mặt họ lúc này có thể là bãi biển, hoặc cũng có thể là 5-7 nhà đầu tư đang chuẩn bị nghe họ trình bày kế hoạch tiếp theo để quyết định xem có nên xuống tiền hay không?

Xô nước ngày nay

Những người mang tư duy xô nước luôn tin rằng mình chỉ cần chăm chỉ, bận rộn, hiện diện nhiều, tăng ca liên tục thì trước sau gì cũng sẽ vượt lên người khác. Thực tế là cho dù họ có làm 18 tiếng, thậm chí 20 tiếng mỗi ngày, họ cũng không thể thắng được những người đang sở hữu thứ làm việc cho người đó không quản ngày đêm, người đang sở hữu thứ tạo ra giá trị cho xã hội bất kể 4 mùa xuân hạ thu đông.

Rõ ràng, người tạo ra giá trị nhiều nhất cho xã hội trong câu chuyện này phải là người đứng đằng sau các đường ống dẫn nước. Cho dù anh em xách xô có định kiến về họ, thậm chí căm ghét họ thì vẫn phải chấp nhận rằng họ đang tạo ra giá trị nhiều hơn tất cả những người xách xô trong làng cộng lại. Người xách xô có thể giao nước chậm vì trời mưa, nhưng đường ống thì không. Người xách xô có thể không giao nước ngay trong đêm và yêu cầu khách đợi tới sáng mai nhưng đường ống thì không bao giờ làm vậy. Vì thế, người sở hữu đường ống xứng đáng giàu hơn người xách xô. Tiền họ kiếm được là tiền sạch sẽ, từ lao động chân chính và đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Đó là điều không phải bàn cãi!

Sở dĩ ngày nay nhiều người họ chọn công việc kiểu “xô nước” là vì thứ đó cho họ cảm giác an toàn, cảm giác làm việc, cảm giác tạo ra giá trị và giúp họ tránh được ánh nhìn cũng như lời xì xào của những người xung quanh. Thứ bận rộn ấy đôi khi lại giúp họ trốn tránh được những thứ mà bản thân không muốn đối mặt. Nhưng khi họ làm việc xô nước, họ có tiền. Khi họ không làm nữa, họ không có thu nhập. Khi công việc xô nước đó không còn thịnh hành nữa và đã bão hòa, họ sẽ phải kiếm công việc khác để làm. Họ sẽ tập trung cho câu hỏi có còn công việc nào để đổi thời gian và công sức lấy tiền nữa hay không? Ở đâu đang có người trả tiền để thuê người làm?

Còn với những người đứng đằng sau các đường ống, họ tạo ra giá trị cả đời, cái đường ống đó nuôi họ cả đời. Thậm chí kể cả khi họ qua đời, nếu đường ống đó còn vận hành, còn được sử dụng là còn tạo ra giá trị và nuôi luôn cả gia đình con cháu họ. Rõ ràng, câu hỏi của họ hoàn toàn khác với những người ở trên. Câu hỏi của họ là làm thế nào để mang giá trị tới người khác nhanh nhất? Làm thế nào để mang giá trị tới người khác lâu dài, bền vững nhất? Làm thế nào để mang giá trị tới người khác ngay cả khi tôi không có mặt ở đó? Để làm gì? Để tôi có thể làm việc khác! Việc khác là việc gì? Xây dựng đường ống mới, nghiên cứu kiểu đường ống mới, thử nghiệm đường ống mới hoặc đơn giản là nghỉ ngơi, là làm những việc mình thích! Rồi sao nữa? Rồi có vậy tôi mới làm giàu cho bản thân mình, cho quốc gia dân tộc mình, cho xã hội này. Và khi tôi rời khỏi thế giới này, tôi không còn gì để hối tiếc.

Những khung ống nước mới ngày nay.

Theo Hải, những công việc được coi là xây ống nước sẽ có ít nhất 2 trên 3 yếu tố hoặc cả 3 yếu tố như đã đề cập ở trên. Thứ nhất là công việc đó giải quyết vấn đề ngay khi người khác cần. Thứ hai là công việc đó giải quyết vấn đề ngay cả khi bản thân không có mặt ở đó. Và cuối cùng là công việc đó giải quyết vấn đề lâu dài (1 năm, 10 năm, hay thậm chí hàng trăm năm).

Hãy cùng thảo luận sơ qua về yếu tố đầu tiên - tốc độ. Xã hội ngày nay có quá nhiều mặt hàng, nguồn cung hay giải pháp. Và rất nhiều trong số chúng sẽ giải quyết được vấn đề của xã hội. Vì thế, trong nhiều trường hợp, chỉ có giải pháp đầu tiên, đến sớm nhất mới được lựa chọn. Còn những giải pháp đến chậm hơn sẽ không được lựa chọn. Rõ ràng, khi 1 người cần nước để sinh hoạt, họ chỉ cần mở vòi và khi đáp ứng được nhu cầu rồi, họ khóa vòi chứ họ không muốn đợi người khác mang nước đến. Nhìn theo góc độ này, khi một người cần tìm kiếm một điều gì đó, thứ đầu tiên cho họ kết quả mới là thứ được cần đến, đó là công cụ tìm kiếm như Google hoặc Bing hay hỏi ChatGPT. Khi một người cần bật đèn lúc trời tối, bật quạt lúc trời nóng, họ chỉ cần bật công tắc. Khi một người cần tìm một chiếc điện thoại, một chiếc xe, họ cần tìm cái đầu tiên hoặc người đầu tiên giúp họ tìm cái phù hợp, bởi vì khi họ đã mua được cái mình cần, xác xuất để họ mua cái thứ hai là rất thấp.

Tiếp đến là công việc có thể giải quyết được vấn đề ngay cả khi bản thân không có mặt ở đó. Những đường ống nước vẫn đang vận chuyển nước ngay cả khi người tạo ra nó không xuất hiện. Ngày nay, người ta có thể nghe bài hát của 1 ca sĩ mà chưa từng gặp ca sĩ đó ở ngoài đời, người ta có thể đọc một tác phẩm, một bài viết, một cuốn sách mà có khi chưa bao giờ gặp tác giả ngoài đời, người ta có thể sử dụng ứng dụng nhắn tin hằng ngày mà thậm chí còn không biết kỹ sư phần mềm đứng đằng sau đó là ai.

Cuối cùng là công việc giải quyết vấn đề lâu dài. Nếu lắp đường ống nước dùng 30 năm không hỏng, thì công việc đó tạo ra giá trị trong 30 năm. Nếu đường ống đó có tuổi thọ 50 năm, thì đường ống đó sẽ phục vụ cung cấp nước cho các hộ dân trong nửa thế kỷ. Một sợi cáp quang được đặt dưới lòng đất có thể trở thành hạ tầng truyền dữ liệu cho hàng triệu cuộc gọi, email, giao dịch và kết nối Internet trong nhiều thập kỷ. Một cây cầu vững chắc có thể rút ngắn thời gian di chuyển của hàng nghìn người trong hàng trăm năm. Một chuỗi video bài giảng đăng công khai trên Youtube có thể giúp ích cho rất nhiều thế hệ học sinh khi không hiểu bài trên lớp.

Thay đổi hay không? Thay đổi như thế nào?

Đổ dồn tài nguyên đi làm đường ống cũng sẽ bị nhiều người hoài nghi, tranh cãi và phản biện giống như nhiều ý tưởng khác. Ai cũng làm đường ống thì ai làm những công việc khác? Tất cả đường ống hoàn thành thì người lao động xô nước sẽ đi đâu về đâu? Liệu các đường ống phát triển mạnh mẽ có làm cho con người trở nên lười hơn, phụ thuộc hơn hay không?

Người đã hoàn thành hạ tầng mạng, lắp đặt mạng cho từng nhà, về cơ bản là họ đã hoàn thành và sẵn sàng thu tiền mạng hàng tháng. Khi kết nối mạng gặp sự cố, họ thậm chí còn không cần ra mặt mà chỉ cần cử kỹ thuật viên được họ thuê đến tận nơi để sửa chữa. Người có đường ống thì thời gian rảnh có thể chạy ba gác để kiếm thêm thu nhập, có thể nhận 1-2 cuốc xe để làm thêm. Nhưng những người không có đường ống, không có tích lũy chỉ có thể dùng thời gian và sức lực để đổi lấy tiền. Mà thời gian của mỗi người luôn là có hạn, sức lực của con người cũng không phải là vô hạn. Những người xách xô gần như phải chấp nhận phụ thuộc vào thời gian và ý muốn của người khác, cũng có thể nói là dành thời gian sống cuộc đời người khác.

Khi anh em nhìn vào các trung tâm đào tạo hoặc các tổ chức giáo dục công lập hay tư thục, anh em sẽ thấy hầu hết các giáo viên sẽ chia đều học viên từ tuyển sinh hoặc chiêu sinh đổ về. Các giáo viên sẽ nhận lương dựa trên số giờ dạy hoặc lương hàng tháng dựa trên cơ sở và bậc hệ số tính theo số năm kinh nghiệm. Họ sẽ nhận phân công theo thời khóa biểu của tổ chức sắp xếp. Công việc của hầu hết các giáo viên ở mỗi tiết là trình bày nội dung, giải đáp thắc mắc và cho các học viên thảo luận. Và gần như lặp đi lặp lại ở mỗi tiết. Khi giáo viên họ còn đi dạy, họ còn kiếm tiền. Khi họ nghỉ, họ không có lương. Rõ ràng, ai cũng có thể bắt đầu làm đường ống dẫn nước từ góc quay bài giảng ở trên lớp, về sau có thể tự quay thêm bài hướng dẫn và biên soạn thêm tài liệu. Khi nhiều người biết đến hơn, họ có cơ hội nhận được câu hỏi ở phần bình luận, yêu cầu ra thêm nội dung. Ngày nay, các AI/LLM còn có thể hỗ trợ 1 người trong quá trình biên soạn và sắp xếp nội dung. Theo thời gian, giáo viên đó ngày càng sở hữu nhiều bài giảng. Họ có thể kiếm được tiền từ view của Youtube, họ cũng có thể dựa vào đó để xây dựng thương hiệu, họ cũng có thể tổng hợp lại để bán khóa học. Và những người đã xây dựng được chuỗi bài giảng, chuỗi tài liệu vẫn có thể tiếp tục đi dạy bình thường.

Các bài giảng mà người học có thể truy cập bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu mà không cần gặp trực tiếp người tạo ra nó không khiến cho học viên đó lười hơn hay phụ thuộc hơn như nhiều người hoài nghi. Mà nó giúp người học có thể lựa chọn xem khi không hiểu bài, có thể dùng như là chất liệu ôn tập, có thể tham khảo thêm góc nhìn. Một giáo viên có thể đã về hưu và không còn tham gia giảng dạy nữa. Nhưng những bài giảng họ để lại thì vẫn còn tạo ra giá trị ngày này qua ngày khác, tạo danh tiếng cho họ và tổ chức của họ từ ngày này qua ngày khác, kiếm tiền từ view mới ngày này qua ngày khác.

Ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng “đường ống kiến thức”, bất kể đó là lĩnh vực phổ biến đã có nhiều người làm hay lĩnh vực rất hẹp có ít người quan tâm. Với những lĩnh vực phổ biến như kiến thức phổ thông, nấu ăn hay chăm sóc cây cảnh thì dù nhiều người đã làm, nhu cầu xem các cách tiếp cận khác nhau, các phương pháp khác nhau và các cách trình bày khác nhau vẫn luôn tồn tại. Còn với kiến thức chuyên sâu hoặc lĩnh vực hẹp hơn, sẽ có ít người làm hơn và khi người ta cần tìm kiếm, sẽ có rất nhiều thứ chưa có ai làm và vì thế sẽ có cơ hội giải quyết vấn đề của rất nhiều người. Sở dĩ Hải biết được những điều đó là bởi vì Hải đã từng vào nhiều vai khác nhau: người học, người tìm tài liệu tham khảo viết luận, người giải đáp thắc mắc, người đi dạy và giờ là người viết, người tạo nội dung. Các trải nghiệm ở các vai đó Hải sẽ nói kỹ hơn ở các blog sau, anh em nhớ đón đọc.

Phần lớn nhiều người không dám làm không phải là vì họ không nhìn thấy mặt lợi của nó mà là vì họ sợ bị đánh giá, họ sợ người khác nghĩ gì đó không tốt về họ. Họ sợ cảm giác bị nhiều người soi mói, sợ bị chỉ trích. Đó là nỗi sợ của phần lớn những người ở độ tuổi ngoài 20. Họ sợ quá lạc loài so với những người khác. Nhưng thực ra, nỗi sợ này xuất phát từ bên trong nhiều hơn bên ngoài. Họ sợ thứ họ mang đến không hoàn hảo, không còn đúng với hình tượng của họ sau nhiều năm và phải tự tay xóa chúng đi. Vì bản thân người đó đã dựng nên một thứ gọi là vùng an toàn. Vùng này hình thành khi con người ta đã sống quá lâu và quen thuộc trong vòng lặp các mối quan hệ, hình ảnh trong quá khứ và nó càng được củng cố khi họ nhìn thấy người nổi tiếng, KOL nào đó bị chỉ trích vì hành động nhất thời hoặc đi quá xa. Nhưng thực chất, chẳng có vùng nào là an toàn tuyệt đối, chúng vốn dĩ chỉ an toàn trong suy nghĩ của 1 người chứ chưa từng tồn tại ở ngoài kia.

Kết

Một trong những thứ có thể tồn tại lâu hơn tuổi thọ của con người đó là đường ống. Con người rồi sẽ già đi. Sức khỏe rồi sẽ suy giảm. Thời gian của mỗi người đều có giới hạn. Nhưng những gì chúng ta để lại thì không nhất thiết phải biến mất. Ai cũng có thể phải xách xô ở một giai đoạn nào đó của cuộc đời. Không có gì đáng xấu hổ khi dùng thời gian và sức lao động để kiếm sống. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ: liệu sau mỗi ngày xách xô, chúng ta có dành ra một phần thời gian để xây đường ống hay không? Bởi vì đến một lúc nào đó, thứ quyết định giá trị của một con người không còn là họ đã đổ bao nhiêu mồ hôi, thức bao nhiêu đêm hay làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày, mà là những gì vẫn tiếp tục tạo ra giá trị ngay cả khi họ không còn ở đó.

Email
Anh em muốn góp ý hoặc trao đổi thêm về bài viết, liên hệ qua nguyenquyhai2002@gmail.com